Tranh thêu chữ thập Thái Nguyên | Tranh Theu Chu Thap, Tranh Thêu Chữ Thập, Shop Thêu Chữ Thập QUEEN

Bạn có 0 Sản phẩm (0,000) trong giỏ hàng

Thanh toán »

TRANH THÊU CHỮ THẬP  THÁI NGUYÊN

TRANH THÊU CHỮ THẬP – QUEEN CROSS STITCH

Hiện tại, QUEEN chưa có đại lý tranh thêu chữ thập chính thức tại THÁI NGUYÊN.

Các cá nhân, cửa hàng quan tâm và có nhu cầu nhập hàng, phân phối tranh thêu chữ thập tại THÁI NGUYÊN. Vui lòng liên hệ Tổng đại lý QUEEN tại Hà Nội để được tư vấn và cung cấp thông tin chi tiết.

Liên hệ trực tiếp Ms Loan: 0977 967 099

(tham khảo thêm Chính sách đại lý bán buôn tranh thêu chữ thập)

Trong thời gian QUEEN chưa có đại lý chính thức tại THÁI NGUYÊN  này.

Chị em có nhu cầu mua tranh tại THÁI NGUYÊN , có thể trực tiếp lựa chọn mẫu trên website Http://TranhChuThap.com , đặt hàng trực tiếp trên website hoặc gọi điện đặt hàng

ĐT đặt hàng: 04. 3350 7889 hoặc  0977 967 099

QUEEN SẼ MIỄN PHÍ CHUYỂN PHÁT NHANH HÀNG TỚI TẬN TAY QUÝ KHÁCH.

 

HỆ THỐNG PHÂN PHỐI TRANH THÊU CHỮ THẬP CHẤT LƯỢNG CAO – QUEEN CROSS STITCH

 Trụ sở chính

Số 42 phố Cù Chính Lan, Q. Thanh Xuân, Hà Nội. ĐT: 04.3350.7889 / 0977 967 099 ( Xem chỉ đường )
Số 311 Trường Chinh là đầu phố Cù Chính Lan, rẽ vào 100 m. Cách Ngã Tư Sở 500m

Queen shop 2
Số 110 phố Trúc Khê, Q. Đống Đa, Hà Nội. ĐT: 04.6291.9529 / 0932.238.030 ( Xem chỉ đường )
Số 103 Nguyễn Chí Thanh là đầu phố Trúc Khê, rẽ vào 10 m. Cách cầu Trung Hòa 100m

Queen shop 3 
Số 335 phố Minh Khai, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội. ĐT: 04.3350.7049 ( Xem chỉ đường )
Đối diện trường ĐH Kinh Tế Kỹ Thuật Công Nghiệp. Cách cầu Mai Động 100m.

Website: Http://TranhChuThap.com

————————————————————

Tìm hiểu thêm về Thêu chữ thập
Thêu chữ thập, tiếng Anh là Cross-stitch, hay còn gọi là x-stitch (Tiếng Pháp: Point de croix, Tiếng Đức: Kreuzstich, Greek: διαγώνια βελονιά, tiếng Nhật: 十字のステッチ, tiếng Trung Quốc: 十字绣… . Thêu chữ thập là thêu trên loại vải thô có các nống đều để các mũi thêu có thể thành hình chữ thập một cách đều đặn. Có hai loại vải chính: aida (đọc là aida) và evenweave (vải thô). Linen không hẳn là vải thô, vì nống không thẳng mấy nhưng khi dùng để thêu X cũng có kết quả rất tốt. Aida là loại vải “sinh ra để thêu X”, các nống sợi của nó to và tạo thành từng ô vuông, mỗi ô vuông tương ứng với một mũi thêu hình dấu X.
Thêu chữ thập là một trong những kiểu thêu lâu đời nhất trên thế giới. Rất nhiều bảo tàng dân gian trưng bày những mẫu vải vóc được trang trí bằng những mũi thêu chữ thập, đặc biệt là những nước Lục địa Châu Âu và Châu Á. Hai bức thêu khổng lồ theo mẫu hoa lá và hình khối bằng tơ sồi màu đen và đỏ trên vải linen ( vải lanh) là đặc điểm của những bức tranh thêu dan gian ở các nước phương Đông và trung Âu. Ở Mỹ mẫu thêu chữ thập cổ nhất hiện đang được lưu giữ tại tòa Pilgrim, thành phố Plymouth, bang Massachusetts. Mẫu thêu được tạo bởi Loara Standish, con gái của thuyền trưởng Myles Standish vào khoảng năm 1653. Những mẫu thêu với nhiều màu sắc giống như tranh vẽ mà chúng ta biết ngày nay là sự phát triển từ những mẫu thêu màu Berlin wool work vào khoảng giữa thế kỷ 19.
Thêu chữ thập du nhập vào Việt Nam từ khoảng năm 2000 và ngày càng có nhiều chị em yêu thích. Đã có khá nhiều các nhóm thêu hình thành hay còn gọi là các Hội thêu ( tham khảo: http://Hoitheu.com ), các Hội thêu này không chỉ là nơi chị em chia sẻ đam mê với thêu thùa mà còn tổ chức nhiều hoạt động gây quỹ từ thiện, đấu giá bán tranh góp tiền cho trẻ em nghèo, người gia leo đơn…
Mẫu thêu chữ thập cũng rất phong phú và đa dạng, người thêu có thể dùng các mẫu mua sẵn và được đóng gói thành các bộ kít tranh thêu chữ thập ( bao gồm đầy đủ cả mẫu thêu, kim, chỉ, vải . . .), người thêu cũng có thể tự sáng tạo mẫu thêu, hoặc sử dụng các phần mềm tạo mẫu thêu được chia sẻ trên mạng để làm mẫu thêu cho mình. ( bạn có thể tham khảo mẫu thêu tại trang web này http://TranhChuThap.com )
Thêu chữ thập rất dễ học, bạn chỉ cần 15 phút là có thể học và bắt đầu thêu những mũi thêu đầu tiên rồi. Chỉ cần kiên trì là bạn có thể tự thêu cho mình những bức tranh rất đẹp, treo tại nhà, làm quà tặng cho bạn bè, người thân rất có ý nghĩa.

————————————————————

Thông tin về tỉnh THÁI NGUYÊN:

Thái Nguyên là một tỉnh ở Đông Bắc Việt Nam, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Do vị trí địa lý thuận lợi, Thái Nguyên trở thành một trung tâm kinh tế – xã hội của khu vực Đông Bắc hay cả Vùng trung du và miền núi phía Bắc. Tỉnh Thái Nguyên được tái lập ngày 1/1/1997 với việc tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Thái Nguyên hiện đang được nghiên cứu để trở thành vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội[3]. Thái Nguyên được coi là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Vị trí
Tỉnh Thái Nguyên có diện tích 3.562,82 km² phía bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Tỉnh Thái Nguyên trung bình cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km. Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế,giáo dục của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi phía Bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế – xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Việc giao lưu đã được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút.

Lịch sử
Từ xa xưa, Thái Nguyên đã là nơi sinh sống của người Việt cổ. Trên địa bàn hang Ốc thuộc xã Bình Long đã tìm được dấu tích của người tiền sử có niên đại ít nhất cách đây từ 7000 đến 8000 năm với những vỏ ốc bị chặt đuôi, xương động vật là những tàn tích thức ăn của người xưa. Từ những năm 1980, cũng tại huyện Võ Nhai, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra dấu tích của người Việt cổ tại khu vực Mái Đá Ngườm thuộc xã Thần Sa.[9] Hàng chục ngàn hiện vật từ các hang Phiêng Tung, Mái đá Hạ Sơn I, Hạ Sơn II, hang Thắm Choong, Nà Ngùn và Mái Đá Ranh…ở Thần Sa, với những công cụ cuội được ghè đẽo như: Mảnh tước, rìu tay, công cụ chặt hình núm cuội, công cụ chặt rìa, công cụ chặt 2 lưỡi, công cụ hình sừng bò… Đặc biệt. các nhà khảo cổ đã tìm thấy 3 bộ xương người cổ được mai táng ở Mái Đá Ngườm, xóm Kim Sơn. Mái Đá Ngườm là một di chỉ quan trọng bậc nhất của khu di chỉ khảo cổ học Thần Sa với 4 địa tầng văn hóa khảo cổ, trong đó tầng thứ tư tiêu biểu cho trung kỳ Thời đại đá cũ.[10]
Thái Nguyên xưa thuộc bộ Vũ Định, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Vào thế kỷ thứ III, Thái Nguyên thuộc huyện Vũ Định, sau đổi tên thành huyện Long Bình. Đến thế kỷ thứ VII được gọi là huyện Vũ Bình, rồi thành châu Thái Nguyên dưới đời nhà Lý. Cuối thế kỷ 14, châu được đổi thành trấn, năm 1407 đổi lại thành châu, sang 1408 thì trở thành phủ, năm 1677 trở thành trấn. Mãi đến năm 1902, triều đình mới cử quan chức trấn nhiệm Thái Nguyên, đặt doanh sở ở Ngọc Hà.
Kể từ khi nhà Lý định đô ở Thăng Long, Thái Nguyên đã trở thành phên giậu trực tiếp che chở phía Bắc kinh thành. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống năm 1076-1077, phần đất phía Nam Thái Nguyên từng là địa đầu của phòng tuyến sông Cầu, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt giữa quan quân nhà Lý với Nhà Tống. Đầu thế kỷ 15, nhà Minh đem quân sang Việt Nam, dân chúng Thái Nguyên lại liên tiếp đứng lên khởi nghĩa. Tiêu biểu là Lưu Nhân Chú, người huyện Đại Từ, ông cùng cha và anh rể đã tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Vào thời nhà Nguyễn, Thái Nguyên là nơi nổ ra nhiều phong trào khởi nghĩa nông dân chống lại quan lại phong kiến. Người dân Thái Nguyên từng tham gia các cuộc khởi nghĩa của Dương Đình Cúc, Nông Văn Vân.
Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, đất Thái Nguyên là địa bàn hoạt động thường xuyên, là hậu cứ của Hoàng Hoa Thám. Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do Trịnh Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến đã nổ ra và đêm 30-8-1917, nghĩa quân đã chiếm được tỉnh lị. Tuy nhiên sau đó thực dân Pháp đem viện binh từ Hà Nội lên tấn công khiến nghĩa quân phải bỏ Thái Nguyên và rút về Vĩnh Yên rồi bị dập tắt sau đó. Tỉnh Thái Nguyên được thành lập vào năm Minh Mệnh thứ 12 (ngày mùng 1 tháng 10 âm lịch, tức ngày 04-11-1831), tỉnh Thái Nguyên khi đó giáp với các tỉnh: Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Sơn Tây.[2]
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhiều Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ thường xuyên qua lại hoạt động, phát triển lực lượng ở Thái Nguyên. Năm 1947, Hồ Chí Minh đã tới Thái Nguyên và lãnh đạo cuộc Kháng chiến chống Pháp từ căn cứ chính tại ATK Định Hóa. Cũng tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định mở Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, chiến dịch Đông-Xuân 1953-1954 cũng như quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử và hàng loạt sự kiện quan trọng khác.
Từ năm 1956 đến 1975, Thái Nguyên là một tỉnh thuộc Khu tự trị Việt Bắc và thành phố Thái Nguyên là thủ phủ của khu tự trị này. Trước đó, năm 1890, chính quyền Pháp chia tỉnh Thái Nguyên thời nhà Nguyễn thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Năm 1965, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sáp nhập hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. Tỉnh Bắc Thái cuối cùng lại tách thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn như ngày nay vào năm 1997.

Kinh tế

Thái Nguyên thuộc Vùng trung du và miền núi phía Bắc, một vùng được coi là nghèo và chậm phát triển nhất tại Việt Nam.[11] Mặc dù vậy kinh tế Thái Nguyên đang dần chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng nông nghiệp đang giảm dần.
Thái Nguyên có tổ hợp Gang Thép được thành lập năm 1959, là nơi đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất liên hợp khép kín từ khai thác quặng sắt đến sản xuất gang, phôi thép và cán thép.[12] Khu công nghiệp đầu tiên của Thái Nguyên là Khu công nghiệp Sông Công và hiện tỉnh này đã được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hình thành 6 khu công nghiệp là KCN Sông Công I (220ha); KCN Sông Công II (250ha) thuộc thị xã Sông Công; KCN Nam Phổ Yên (200 ha), KCN Tây Phổ Yên (200ha) thuộc huyện Phổ Yên; KCN Điềm Thuỵ (350ha) thuộc huyện Phú Bình và KCN Quyết Thắng (200ha) thuộc thành phố Thái Nguyên, đều tập trung ở khu vực trung-nam của tỉnh.[13][14]. Ngoài ra, tỉnh Thái Nguyên cũng quy hoạch một số cụm công nghiệp tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh. Đến hết năm 2010 đã có 18 cụm công nghiệp được phê duyệt qui hoạch chi tiết với diện tích 620 ha (6,2 km²), trong đó diện tích đất công nghiệp là 407,6 ha (4,076 km²).[15] Tuy nhiên nhà ở cho công nhân cũng là một vấn đề nan giải khi mà dự kiến đến năm 2015 Thái Nguyên sẽ có khoảng 163.750 công nhân, trong đó có khoảng 43.045 người có nhu cầu về nhà ở.[16]
Chợ Thái ở trung tâm thành phố Thái Nguyên
Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên
Tính đến năm 2010, tỉnh Thái Nguyên có tổng cộng 135 chợ, trong đó có 99 chợ nông thôn. Theo phân loại, có hai chợ loại 1, 7 chợ loại 2 và còn lại là chợ loại 3. Trong số các chợ, lớn nhất là chợ Thái, đây đồng thời cũng là chợ lớn nhất vùng Việt Bắc. Tổng diện tích sử dụng cho mạng lưới chợ của tỉnh Thái Nguyên là 476.295 m², trong đó diện tích chợ được xây dựng kiên cố là 108.559 m², chiếm 17,5 %. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên còn 45 xã chưa có chợ, đa số là những xã vùng sâu, vùng xa. Tỉnh Thái Nguyên cũng quy hoạch xây mới 5 chợ tại các xã Thuận Thành (Phổ Yên), Phú Thượng (Võ Nhai), Yên Ninh (Phú Lương), Yên Lãng (Đại Từ và Thanh Ninh (Phú Bình) thành các chợ đầu mối nông sản, tương ứng với 5 cửa ngõ của tỉnh tiếp giáp tương ứng với Hà Nội, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang và Bắc Giang.[17]
Thái Nguyên có tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, là một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng. Tỉnh Thái Nguyên có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước, than mỡ trữ lượng trên 15 triệu tấn, than đá trữ lượng khoảng 90 triệu tấn; kim loại màu có thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken, thuỷ ngân… Khoáng sản vật liệu xây dựng cũng là tiềm năng nguyên liệu rất lớn để sản xuất xi măng, sản xuất đá ốp lát các loại và sản xuất vật liệu xây dựng. Riêng mỏ Núi Pháo trên địa bàn các xã phía đông của huyện Đại Từ được các cơ quan chuyên môn đánh giá có trữ lượng Vonfram khoảng 21 triệu tấn, lớn thứ 2 trên thế giới sau một mỏ tại Trung Quốc, ngoài ra mỏ còn có trữ lượng Flo lớn nhất thế giới khoảng 19,2 triệu tấn, và trữ lượng đáng kể bismuth, đồng, vàng và một số kim loại khác.[18]
Trong giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Nguyên đạt trung bình 11,11% mỗi năm, trong khi giai đoạn 2001-2006 trước đó là 9,14% mỗi năm. Trong thời kỳ 2006-2010, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng trưởng bình quân đạt 14,91%, khu vực dịch vụ đạt 11,86% và khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản là 4,14% mỗi năm. Cơ cấu kinh tế của Thái Nguyên cũng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp – xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng của ngành nông lâm nghiệp trong GDP. Năm 2011, cơ cấu kinh tế của Thái Nguyên có tỉ lệ công nghiệp và xây dựng chiếm 41,77%; dịch vụ chiếm 36,95%, nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,28 %. GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2011 dự ước đạt 22,3 triệu đồng/người, tương đương khoảng 1062 USD/người và tỉ lệ hộ nghèo giảm 2,1% so với năm 2010.[19] Từ năm 2005 đến tháng 12 năm 2010, Thái Nguyên có 428 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký quy đổi đạt 105.000 tỷ đồng, trong đó có 16 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.[20][21] GDP trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2011 ước đạt 3.352,8 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ.[22]
Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Thái Nguyên xếp thứ 57/63 tỉnh thành, thấp hơn thứ hạng 42 của năm 2010.[23][24] Thu nhập hàng tháng của lao động trong khu vực nhà nước do tỉnh Thái Nguyên quản lí theo kết quả sơ bộ năm 2009 là 2.527.900 đồng, thấp hơn mức trung bình cả nước cùng thời điểm là 2.867.100 đồng và của khu vực trung du miền núi phía Bắc là 2.983.200 đồng.[25]